Việt Nam sẽ là quốc gia giàu mạnh vì biển

Cập nhật lúc 15:58, 01/09/2011



Chiến lược kinh tế biển Việt Nam đến năm 2020 có nhiều mục tiêu, trong đó mục tiêu quan trọng, mang tầm chiến lược là phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam trở thành quốc gia mạnh và giàu vì biển.

ca.jpg
Biển đem lại nguồn lợi thuỷ sản lớn cho đất nước. Ảnh: minh họa


Báo BĐVN đã có cuộc phỏng vấn TS.Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam về chủ đề này.

Ông từng nói rằng, việc khẳng định chủ quyền trên biển là một chuyện, nhưng quan trọng không kém là thực lực thực thi chủ quyền, trong đó kể cả về mặt bảo vệ lẫn khai thác biển. Vậy hiện nay Việt Nam đã làm được gì theo yêu cầu này và chúng ta còn những gì cần bổ khuyết?

Chúng ta trước sau như một khẳng định chủ quyền vùng biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam theo tinh thần của Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc 1982. Từ xa xưa, người Việt qua các triều đại đã thực thi quyền chủ quyền của Việt Nam trên các vùng biển như vậy, đặc biệt luôn coi trọng yếu tố biển trong chiến lược phát triển đất nước, xem biển là “không gian sinh tồn và phát triển của dân tộc”. Sau này nữa, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương “bảo vệ đi đôi với xây dựng đất nước”, và ngư dân, những người làm nghề biển khác vẫn duy trì làm ăn yên ổn trên các vùng biển, đảo chủ quyền của Tổ quốc. Ý chí chính trị của dân tộc ta đối với biển thể hiện trong câu nói bất hủ của Bác Hồ: “Biển bạc của ta do nhân dân ta làm chủ!”. Điều này cũng thể hiện rất rõ trong mục tiêu của Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, rằng nước ta phải phấn đấu trở thành một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển.

Thực hiện mục tiêu này, chúng ta phải không ngừng tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh để bảo đảm một Biển Đông hòa bình, đủ sức bảo vệ vùng biển của Tổ quốc trong mọi tình huống, cùng với việc hỗ trợ các hoạt động khai thác, sử dụng vùng biển, đảo của Tổ quốc một cách hiệu quả và bền vững. Nhiều việc phải làm, và không ít việc đã làm để thực hiện chủ trương trên, đặc biệt gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng trên vùng biển chủ quyền của Tổ quốc. Gần đây, tình hình biển có “xấu đi”, nóng hơn và đòi hỏi chúng ta phải tăng cường hơn nữa các khả năng nói trên.

Hiện nay có khoảng 15 bộ, ngành có trách nhiệm quan tâm đến quản lý biển. Theo ông, việc quản lý theo ngành như vậy có ưu điểm, hạn chế nào trong quá trình khai thác, sử dụng biển, hải đảo và vùng ven biển?

Phương thức quản lý biển theo ngành (sectoral management) nhằm thực thi trực tiếp trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các hoạt động sản xuất và phát triển của ngành. Đó là cách quản lý truyền thống và không thể thay thế. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý theo ngành bộc lộ một số hạn chế cơ bản, như: chú ý nhiều đến lợi ích phát triển ngành, chưa quan tâm đầy đủ lợi ích môi trường và tài nguyên cho các thế hệ mai sau; thường phát triển tự phát với tầm nhìn ngắn hạn, thiếu “cái nhìn có tầm”, chưa coi trọng quy hoạch và thực thi quy hoạch dài hạn; giải quyết vấn đề cục bộ, thiếu toàn cục theo một khuôn khổ phát triển toàn diện (CDF-comprehensive development framework); chú ý nhiều đến lợi ích ngành mình, ít chú ý đến lợi ích của ngành khác, người khác; làm gia tăng mâu thuẫn lợi ích trong quá trình khai thác, sử dụng biển, đảo…

Chính vì thế, Chính phủ chủ trương tăng cường quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất đối với biển và hải đảo và đó cũng là chức năng duy nhất của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Thực thi cách tiếp cận quản lý tổng hợp và thống nhất trong lúc còn khoảng 15 bộ, ngành cùng quan tâm đến quản lý biển là một thách thức rất lớn. Tuy nhiên, quản lý tổng hợp và thống nhất không thay thế phương thức quản lý theo ngành, mà chỉ kết nối và điều chỉnh hành vi phát triển của các ngành nhằm sử dụng biển, vùng ven biển và hải đảo một cách “đa ngành”, “đa mục đích” và “đa lợi ích” trong khi vẫn giảm thiểu được mâu thuẫn lợi ích trong quá trình phát triển đa ngành.

Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, để có nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả thì nội hàm của mạnh và giàu là hai mặt của một vấn đề cần phải cân nhắc. Nếu kinh tế mạnh thì có thể hỗ trợ cho việc sản xuất nói chung trên biển. Ngược lại, nếu kinh tế biển phát triển hiệu quả thì đây là yếu tố tác động trở lại, củng cố sức mạnh dân tộc.

Các chuyên gia đã nhắc tới việc thành lập một Bộ kinh tế biển. Vậy theo ông, việc này có phù hợp với thực tế VN và có phải là giải pháp nhằm tập trung đầu mối quản lý, cũng như tăng tối đa hiệu quả quản lý, khai thác biển?

Một quốc gia với ba phần là biển như nước ta, công tác quản lý nhà nước suy cho cùng là quản lý đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Cho nên, nếu có dành ra một thiết chế cấp bộ để quản lý nhà nước về biển theo phương thức tổng hợp và thống nhất trong bối cảnh hiện nay thì có gì là không nên. Có điều thành lập vào thời điểm nào, quy mô nhiệm vụ ra sao phải có thiết kế, bảo đảm tính khoa học và thực tiễn của mô hình thiết chế mới trên cơ sở không làm “phình to hơn” bộ máy hành pháp. Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 cũng cho rằng cần phải thành lập một cơ quan quản lý nhà nước đủ mạnh để quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo ở Việt Nam.

Theo ông, điều gì là cần thiết nhất hiện nay trong bối cảnh các vấn đề khai thác và khẳng định chủ quyền của VN tại khu vực biển Đông được nhiều quốc gia quan tâm và thậm chí có thời điểm căng thẳng? Để luôn giữ hòa khí với các nước láng giềng về vấn đề chủ quyền trên biển Đông, chúng ta nên có chính sách, hành động như thế nào?

Biển Đông hiện nay được nhiều quốc gia quan tâm, thúc đẩy các hoạt động khai thác và tìm các biện pháp khẳng định chủ quyền theo cách riêng của họ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến cho khu vực biển này “nóng lên”, “phức tạp thêm” khi xuất hiện thêm các nhóm lợi ích khác đòi quyền tự do trên biển Đông theo Công pháp quốc tế… Có vẻ, biển Đông chứa đựng yếu tố “đa lợi ích” nên các bên hãy cùng ngồi với nhau xem lại Công ước Luật biển 1982 trên bàn đàm phán đa phương, tăng cường thực thi phương thức ứng xử đa phương (DOC) đã thỏa thuận và không để chuyện “ăn miếng, trả miếng” xảy ra chỉ làm xấu thêm tình hình. Đồng thời chúng ta phải nêu cao cảnh giác, cơ cấu lại đội hình ra biển theo hướng làm ăn lớn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tôn trọng luật pháp quốc tế, kiên quyết bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia.

Dự thảo Luật biển VN được kỳ vọng là sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho việc thông tin và ứng xử liên quan đến các vấn đề về biển đảo. Vậy ông có thể chia sẻ những điều cơ bản được kỳ vọng sẽ tạo nên sự thay đổi khi thực thi Luật này?

Ở nước ta có khá nhiều luật phục vụ quản lý theo ngành, như: Luật Thủy sản, Dầu khí, Hàng hải, Du lịch…, nhưng lại thiếu hệ thống pháp luật để quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất đối với biển và hải đảo. Công việc này cần thời gian khá dài để hoàn thiện. Luật Biển Việt Nam là luật cơ bản, nền tảng để xây dựng các luật ngành và lĩnh vực chuyên ngành, đặc biệt sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho việc thông tin và ứng xử liên quan đến các vấn đề về biển, đảo, là công cụ pháp lý bảo vệ lợi ích quốc gia. Vì thế luật này sẽ phải xây dựng phù hợp với tinh thần của Công ước LHQ về Luật biển 1982, tập quán quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam. Để làm được điều này Luật Biển Việt Nam phải đạt mức “nội luật hóa” cao. Quan điểm, ý chí của Việt Nam đối với các vấn đề biển, đảo phải được lồng ghép, các vùng biển pháp lý được xác định với chế độ pháp lý phù hợp với tập quán, pháp luật Việt Nam và quốc tế.

Xin cảm ơn ông!

Đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển”.

Nghị quyết Trung ương 4 (Khoá X)

Các đảo và quần đảo trong biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với nhiều nước. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có vị trí chiến lược, có thể dùng để kiểm soát các tuyến hàng hải qua lại biển Đông và dùng cho mục đích quân sự như đặt trạm ra đa, các trạm thông tin, xây dựng các trạm tiếp nhiên liệu cho tàu bè, tránh trú bão...

Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở biển Đông là 07 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, miền Nam. Bên cạnh đó, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng, trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Ngoài ra, hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng biển Đông.

Huệ Trần





1 comment:

  1. đã có nhiều nguồn tài nguyên nhưng tại sao nước ta lại nằm trong nhóm nước "đang phát triển "? nên dạy cho các bạn nhỏ từ lớp 1 rằng nước ta không phải "rừng vàng biển bạc" mà phải "khom lưng làm việc"!

    ReplyDelete