Đời sông, sống nước


Nơi nhiều thế hệ ngủ xếp lớp trên một hai mét vuông ván sàn. Nơi sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc. Nơi ban ngày trẻ con phải buộc một quả bóng nhựa vào cổ, vào tay phòng khi ngã xuống nước, ban đêm hay khi người lớn vắng nhà bị trói chân vào cột thuyền kẻo rớt xuống sông. Ở thế giới đó, kế sinh nhai ngày một khó vì dòng chảy mỗi lúc thêm cạn, thêm ô nhiễm…
Bèo bọt phận phù du
Thuyền chúng tôi trôi trên sông Đà qua những bờ ngô, bãi khoai xanh mướt, qua những trảng cát vàng ruộm tiến dần ra giữa dòng. Mặt sông nhuộm đỏ ánh tà dương.
Gặp ngày quậy trời, chim quác vừa bay vừa quàng quạc kêu bắt treo, bắt ngóe. Tiếng kêu báo hiệu một tiết mai sẽ ấm. Khi quầng sáng nhấp nháy trên cầu Trung Hà (Ba Vì, Hà Nội) nhạt nhoà như một sợi chỉ đỏ, chiếc thuyền giảm tốc, đã đến đất Xuân Lộc (Thanh Thuỷ, Phú Thọ). Đêm. Mỗi lúc một tối đen như mực. Nền trời le lói vài ngôi sao. Hơi lạnh khiến cho mặt sông bốc khói ngùn ngụt như trong nồi luộc bánh. Hàn khí luồn qua lớp quần áo dày, qua cả lớp chăn đẫm sương, tê tái từng đường gân, thớ thịt.
 Tắt máy. Chưa đến thời điểm cá mương đi ăn ngược, vợ ông Lê Văn Tuyến (xã Cổ Đô, Ba Vì, Hà Nội) tranh thủ quấn chiếc áo mưa vào người chống rét, nằm co ro ngủ. Ông Tuyến lặng lẽ chèo giật lùi từ bờ ra giữa sông thả lưới chặn đầu, đón gọng kìm. Mắt lưới này nhỏ, chỉ 3 cm chuyên đánh cá mương, cá mầm lúc đầu tối còn lưới mắt 4,5 cm bắt cá: chày, măng, mè, ngạnh thả lúc về khuya. Nếu nước chảy chỉ một thuyền kéo lưới nhưng nước vật (nước đứng) phải hai thuyền.
Mùa này đập thủy điện Hòa Bình thường đóng cửa xả, nước đứng nên ông bà mới phải chèo cả hai thuyền. Cũng trong một buổi thả lưới tối thế này cách đây mấy năm, vợ con ông bị một tàu chở cát đâm phải. Bà nắm mái dầm thoát chết, đứa con đang quấn chăn ngủ trong mui cũng kịp bơi ra trước khi thuyền chìm nghỉm. Chiếc tàu lớn phóng hết tốc lực đào tẩu. Kể từ đó, mỗi khi đánh bắt đêm, ông đều để một chiếc đèn pin nhấp nháy trên thuyền làm đèn tín hiệu. Mải miết dìu lưới một quãng dài 4-5km, những khớp xương chân của ông Tuyến kêu lục cục như máy móc khô dầu. Những khớp xương đã chèo cả vạn km sông nước giờ thành tật, đau nhức triền miên, hành hạ mỗi lần đi kéo lưới. Nước chảy yếu, nhịp chèo càng nặng.
Hì hụi từ 6h chiều đến 9h đêm, mẻ lưới thu về được nửa cân cá mít, vài con chày ranh bằng ngón tay. Giống cá mít, cá ngạnh càng nhỏ gai càng sắc, chích càng buốt. Lúc bị cá ngạnh đánh chỉ còn nước cắn vào tay, hút hết nhớt, máu độc rồi lấy hạt vòng giã nát đắp ngay vết thương, bẻ cái ngạnh cắm vào thân cá làm hèm sẽ không bị nhức buốt thấu xương thấu tủy vài ngày. Vừa tỉ mẩn ngồi gỡ cá, bẻ ngạnh, làm sạch, bà Tuyến bán được chỗ cá đó 20.000đ cho người trên bờ mua nấu cháo khuya. Nghỉ một chặp, đến 1- 2h sáng ông bà lại đi làm đến sớm hôm sau. Mẻ lưới ngâm họ bắt được một con cá ngạnh, một cá mầm nhỏ còn mẻ lưới 4,5 cm không được nổi một mống. Nén tiếng thở dài ngao ngán, ông than, mùa này nước rêu nhiều, sông hôi nên ít cá, đi làm chỉ tổ mệt vì rửa lưới.
Vạn chài Thái Hòa dưới chân cầu Trung Hà có 4 nhà bè cùng khoảng 20 thuyền nhỏ, dân chủ yếu gốc ở xã Cổ Đô. Xưa, thời vạn chài đông đúc còn có phó thôn, có tổ chức hành chính nhưng từ năm 2010, lúc ông Nung phó thôn cuối cùng nghỉ cũng là lúc xóm sống trong cảnh bèo dâu tụ hội. Bè là nơi đại gia đình, ông bà, con cái, cháu chắt tụ hội, là chốn đi về hương hỏa của kiếp đò giang. Bè đơn giản chỉ là quả phao làm từ hai vỏ tên lửa trên đó lát ván rồi lợp mái thành chỗ trú mưa, trốn nắng.

Nhà bè của ông Lê Văn Tuyến làm từ 1993, quả phao đã mục, rò, mấy lần ông phải kê lên bờ vá víu chằng chịt, tạm bợ bằng xi măng mà chẳng có tiền thay thế. Thuyền là tổ ấm của các gia đình trẻ với hai vợ chồng cùng vài đứa con. Thuyền đồng thời cũng là phương tiện sinh nhai, di chuyển của họ. Một đứa con trai dưới vạn lập gia đình, bố mẹ lại dành dụm, vay mượn để mua một chiếc thuyền lắp máy nhỏ cùng một vài vàng lưới, tổng cộng cỡ 20 triệu cho chúng ra ở riêng. Đời ngư phủ với con thuyền lênh đênh như con rùa, lúc nào cũng đội ngôi nhà của mình trên lưng, tối đâu là nhà, ngã đâu là giường.
Đời cụ kị làm cá, ông bà làm cá, bố mẹ làm cá, mình làm cá, con cháu cũng làm cá, không biết bất cứ nghề gì khác. Hơn năm mươi năm cuộc đời ông Lê Văn Tuyến là mấy mươi năm trên thuyền. U uẩn trong mắt ông rặt màu xanh khói sóng và gió sông. Bận đi xa nhất, vượt vạn chài của ông là đận… tới Hà Nội chữa bệnh cho đứa cháu.
Ông bà có 5 con, 10 cháu và nhận nuôi đứa cháu nội Lê Văn Chu bị liệt một chân từ nhỏ, đang học lớp 1. Cháu đã kê khai làm đơn xin vào đối tượng tàn tật lâu rồi cũng chưa được hưởng chế độ. Lũ cháu ngoại thuyền bên thấy tôi đến liền chạy sang nô đùa ầm ầm trên những thưng ván đã cũ mục khiến ông Tuyến luôn miệng la mắng. Mới hôm qua thôi, thằng Lê Văn Khương ngã xuống nước ba bận, may ông vớt kịp cả ba.
Nước đục làm ngày vì cá không thấy lưới còn nước trong dân vạn làm đêm, làm hôm vất vả không kể xiết. Cùng là dân Việt, trên làng được cắm đất giãn dân, dưới nước thì không, người nào có điều kiện mua ngoài, làm móng xong cũng bỏ đấy vì không có tiền xây nhà, chỉ để giữ đất.
Trẻ con đứa nào cũng buộc bóng đề phòng chết đuối. Vẫn là quả bóng nhựa vài ngàn đồng nhưng ở trên sông nước, chúng được chế thành cái phao cứu sinh bằng cách đan rọ, nhét bóng vào trong rồi buộc vào chân, vào cổ lũ trẻ. Trẻ vạn chài chỉ có mấy mét vuông lòng thuyền làm chỗ chơi đùa, xảy cái là ngã, hễ ngã là chìm nghỉm. Người lớn thấy cái phao chấp chới, động đậy chỉ việc tóm lấy, lần sợi dây mà lôi đứa trẻ đang uống no một bụng nước lên. Đeo bóng rồi nhưng con anh Lê Văn Chuông vẫn chết bởi dây bóng vướng vào cọc chèo, đầu cháu cắm xuống nước mà bố mẹ ngủ say không hay biết.
Rất nhiều trường hợp chết thương tâm vì ngã xuống sông như vậy như con của anh Lê Văn Chuyển, Lê Văn Nghề, Ngô Văn Đáng hay mới đây nhất là trường hợp con của ông Ngô Văn Hữu. Sông nước vô tình, không chỉ cướp đi mạng sống của trẻ nhỏ mà cả vợ anh Ngô Văn Tùng chết vì đắm thuyền khi đi cắt cỏ hay vợ và hai con anh Ngô Văn Chí chết vì đắm thuyền khi đang lai dắt một bè. Xác con thì thấy, xác vợ thì không. Mất người, mất của, không nhà, không cửa, anh Chí phát rồ cả năm ròng.
Chị Thảo, vợ thứ hai của anh Chí bảo với tôi dư chấn của vụ chìm thuyền năm nào như một vết thương chẳng bao giờ lành miệng. Lắm khi đi thả lưới, chỉ nghe tiếng cá quẫy mạnh là anh bủn rủn chân tay, cả người đờ đẫn, không làm gì được.
Dương Đình Tường-thuysanvietnam.com.vn

No comments:

Post a Comment